Nhớ lại tôi là một thằng cứng đầu trong khoảng này. Trí nhớ kém, hay quên nhưng vẫn cứ thích đọc, thích học thêm nhiều điều mới.

Ngày xưa, lúc còn học cấp hai, tôi thích “soạn” một quyển sách trắc nghiệm khách quan. Nó đến từ việc tôi rất thích xem chương trình “Đường lên đỉnh Olympia”, chương trình “Em yêu khoa học”, “Ai là triệu phú”,… Mỗi khi xem một chương trình nào, tôi đều ghi thật nhanh các câu hỏi và câu trả lời lại. Sau đó tôi tập hợp những gì ghi được và viết vào một quyển vở 200 trang. Hôm nào không xem được, tôi nhờ cha tôi xem hộ và ghi lại giúp.

Rồi có cơ hội làm thân với thầy thủ thư trường tiểu học nơi cha tôi dạy. Tôi đọc gần như hết kệ sách dành cho thiếu nhi. Quyển sách toàn chữ đầu tiên tôi đọc là quyển “Dũng sĩ chép còm” của Phùng Quán. Sau đó tôi lân la qua kệ dành cho các thầy cô giáo và tìm được những quyển rất hay như Vũ trụ, Napoleon, Khoa học… Nhớ có một lần vui vui, vừa đọc xong quyển Vũ trụ, thì năm ấy trường THCS có tổ chức cuộc thi Kính Vạn Hoa dành cho các anh chị lớp 8 (tôi lớp 7). Đến phần thi dành cho khán giả, cô Tuyền tổng phụ trách có hỏi một câu “Hành tinh nào lạnh nhất trong hệ Mặt Trời?”. Nói thật luôn là lúc ấy tôi không biết nhưng trong đầu tự nhiên nảy lên câu trả lời là “Sao Diêm Vương”. Phản xạ làm tôi giơ tay và chỉ một mình tôi giơ tay. Có lẽ tiềm thức sau khi đọc sách đã giúp tôi có câu trả lời ấy nhưng thật lòng tôi không biết cái lý do vì sao nó lại là hành tinh lạnh nhất. Tôi được cô gọi lên và đáp án đúng. Tôi nhận hai bịt kẹo mà lúc ấy là rất quý. Sau này tôi mới biết là vì nó là hành tinh xa Mặt Trời nhất nên lạnh. Rồi lên năm 3 đại học, Diêm Vương Tinh cũng bị loại khỏi hệ Mặt Trời.

Tôi lên cấp 3 ở trường chuyên. Khi ấy đúng nghĩa “dân quê” cả về vẻ bề ngoài lẫn đầu óc. Các bạn ở Ba tri và Thị Xã cực kỳ giỏi. Khi ấy tôi đậu vào trường ở mức trung bình chứ không nằm trong top. Học chung mấy bạn mà tôi vừa ngưỡng mộ vừa sợ. Cái nỗi sợ ấy làm tôi học gần như cả ngày lẫn đêm, thức khuya dậy sớm, có lúc mệt quá nằm gục lên bàn. Có hôm vì học bài to quá, bị chú nhậu về la quá trời, bảo là học gì mà lắm vậy, không chú ý sức khỏe gì hết. Nhìn mấy bạn học mà thấy ham, đọc sách đâu nhớ đó, tư duy đầu óc rất nhạy, cảm giác tôi ngồi giữa một rừng những thiên tài và thứ tôi học được chính là động lực để chạy theo.

Có lẽ điều khác biệt duy nhất của tôi so với các bạn là tôi áp dụng sở thích “soạn sách” của mình vào chuyện học. Tôi soạn sổ tay cho các môn, trong đó đặc biệt nhất có lẽ là môn văn. Tôi đánh máy lại, chia bản, phân loại tác giả, tác phẩm, ghi chú này nọ rồi in ra thành một tập để dành học cho dễ. Cô Văn có lần thấy thú vị mượn ghi chú ấy để đi “truyền bá”. Tôi thích những thầy cô dạy theo phương pháp “ghi chú”, điển hình năm đó có thầy Phấn dạy thêm Lý và cô Hòa dạy Sử. Thầy Phấn thì gần như bắt buộc chúng tôi phải làm một quyển sổ ghi chú, quy định rõ chỗ nào đóng khung, chỗ nào viết đỏ cho rõ ràng. Còn cô Hòa thì soạn hẳn một xấp các câu hỏi kèm trả lời ra tờ A4 rồi khi dạy, cô bảo câu nào là 3 sao, câu nào là 1 sao. 3 sao thì khả năng ra thi tốt nghiệp cao nhất, 1 sao thì thấp nhất. Tùy theo tình hình và độ siêng có thể học theo đó. Tất nhiên để cho chắc, tôi đã học hết nhưng khi thi, đúng là đề chỉ cho ra chỗ mấy câu 3 sao.

Có lẽ chính cái phương pháp học mà thầy Phấn hay cô Hòa áp dụng khiến tôi thấy rằng việc ghi chú trong học tập gần như là một việc quan trọng nhất. Đầu óc con người có hạn, ta không thể nhớ hết mọi điều. Thầy Huỳnh Văn Sơn có lần đã kể rằng khi thầy nộp đơn xin học bổng ở nước ngoài, người ta đã hỏi thầy “Hãy cho tôi xem quyển vở ghi chú của em”. Rồi tôi đọc được trên mạng, từ một người có uy tín nhưng quên tên, rằng cách học tốt và hiệu quả thời công nghệ là viết blog. Nó giống với ý tưởng “cách học tốt nhất là dạy người khác” mà cô Thường dạy văn năm lớp 10 có nói tụi tôi.

Rồi lên đại học. Tôi bị khủng hoảng về cách học. Xét về trong lớp, tôi thuộc hàng siêng, năm nhất gần như ở nhà tu luyện, ở trong lớp học cũng không đến nỗi. Tuy nhiên đến khi đi thi cuối kỳ, tôi bị áp lực và làm sai những chỗ tính toán cơ bản (4x=1 suy ra x=4 hay tích phân axb=tích phân a x tích phân b) khiến cho kết quả học tập của tôi thấp đến thê thảm (tất nhiên thê thảm so với kỳ vọng). Tôi bị bế tắc và áp dụng gần như mọi điều để nâng cấp đầu óc mình, trong đó có ăn uống ngủ nghỉ điều độ, tập thể dục, ăn nhiều chất có đường,… nhưng mọi thứ vẫn không thay đổi vào năm 2. Đến năm 3, tôi bất lực và buông xuôi, tôi quyết định cứ học một cách thoải mái, kết quả ra sao thì kệ. Và tôi đã làm đúng như vậy, ôn và học không hề áp lực. Đúng là “vô chiêu thắng hữu chiêu”, năm 3 tôi là một trong những người có điểm tổng kết cao nhất lớp. Tôi bất ngờ nhưng kinh nghiệm rút ra là đầu óc phải thoải mái, thoải mái kiểu không xem kết quả ra cái khỉ khô gì miễn sao mình làm việc nghiêm túc. Nhưng cái kinh nghiệm ấy không có ích lợi gì vì nếu tôi quay lại quan tâm kết quả thì coi như chẳng áp dụng được. Sang năm 4, phương pháp “hữu chiêu” tôi học được từ một người bạn thật sự phát huy tác dụng, đó là học nhóm liên tục. Chúng tôi tổ chức học nhóm liên tục tầm 1-2 tháng trước khi thi học kỳ. Lấy đề ra giải, có gì hay thì bảo nhau, có gì không hiểu thì hỏi nhau, hỏi thầy, hỏi mấy anh chị năm trước. Chính cái không khí ôn thi như ngày hội đó đã khiến kết quả học tập của tôi rất khả quan.

4 năm đại học cho tôi ba bài học lớn về sự học và hành. Một là làm việc nhóm như trên. Hai là phong cách làm việc “chậm mà chắc” của một bạn cùng lớp. Bạn ấy làm từ tốn, nhẹ nhàng, không phô trương, không gấp gáp, công việc và mục tiêu được trải đều trên chuỗi thời gian và được hoàn thành một cách nghiêm túc từng ngày. Khi làm thì tập trung hết sức, khi xong thì chẳng còn nghĩ ngợi gì về nó trong ngày hôm ấy. Điều thứ 3 chính là để giải quyết một vấn đề hóc búa, bạn cần có hai điều kiện - niềm tin và sự kiên nhẫn. Niềm tin sẽ cho bạn sự kiên nhẫn. Sự kiên nhẫn sẽ khiến bạn ăn ngủ với cái vấn đề ấy và khi bạn có đủ sự tiếp xúc, có đủ sự mật thiết với nó, với các dây mơ rễ má của nó thì công việc còn lại là của những ánh sáng chợt lóe lên trong đầu bạn - những ý tưởng giải quyết vấn đề.

Câu chuyện của bài học thứ ba là về lần làm luận văn đại học. Tôi là một dân chuyên Toán thuần túy nhưng lại thích làm tin học. Đó là lý do vì sao cuối năm 3 chọn chuyên đề để học, tôi không chọn Toán mà lại chọn một môn duy nhất trong khoa liên quan đến Tin. Môn ấy có tên là “Ứng dụng CNTT trong dạy học Toán” nhưng thật sự chẳng có một tí toán gì trong ấy cả. Chúng tôi học lập trình ứng dụng dựa trên ngôn ngữ ẩn trong các bộ ứng dụng văn phòng như Word, Excel, Access. Tôi làm say mê và hăng say hết mức có thể cùng thầy Tuấn. Lên năm 4, đến kỳ chọn đề tài làm luận văn tốt nghiệp. Chỉ có tầm hơn 20 người với điểm số đủ quy định mới có thể nộp đơn xin. Tôi muốn nộp vào tổ Toán ứng dụng trong đó có chủ đề của thầy Tuấn, một chủ đề về Tin nhưng lại thiếu đi nửa điểm. Tôi đánh liều gọi điện nói trực tiếp với thầy. Cũng may là năm 3, nhóm tụi tôi có gây ấn tượng rất tốt với thầy nên thầy vẫn nhớ tôi là ai. Giờ thấy tôi gọi điện “xin xỏ”, thầy bảo cứ nói với thầy trưởng khoa khi ấy cũng là một thầy Tuấn khác. Tôi vào làm luận văn.

Vì là một đứa trái ngành, tôi gần như chả biết gì về Tin, về những kiến thức cần có để làm đề tài đó - lập trình web. Được sự hướng dẫn của thầy Tuấn, tôi và hai người bạn khác cùng nhóm nhưng khác đề tài bắt tay vào tự học. Thầy quăng cho 3 trang code thầy viết sẵn ý tưởng chính nhưng không giải thích gì thêm và kêu chúng tôi về phát triển ý tưởng ấy. Nếu là dân lập trình, bạn sẽ hiểu việc đọc code của người khác là một cực hình khi mà đoạn code ấy không có chú thích rõ ràng. 3 trang code của thầy Tuấn là như thế, gần như không có chú thích gì hoặc chỉ chú thích cho riêng thầy hiểu với một thứ ngôn ngữ chẳng phải tiếng Việt. Giai đoạn ấy cũng là lúc tôi đi thực tập sư phạm lần 2 ở trường Giồng Ông Tố và rất bận. Áp lực đủ điều và gần như bế tắc trong đề tài. Tuy nhiên niềm tin rằng “thầy đã là m được, có gì hỏi thầy” ấy khiến tôi không bỏ cuộc. Tôi gần như ăn ngủ với 3 tờ code ấy, đi đâu cũng cầm theo, rãnh là lấy ra đọc, lấy viết ghi chú, highlight đủ kiểu, cốt là phải làm sao biết được ý tưởng cơ bản của thuật toán thầy đang dùng. Bỗng một ngày đẹp trời trong căn phòng 4 mặt kín mít ở nhà trọ, tôi hiểu được một ký hiệu then chốt trong 3 trang code của thầy - “cT” nghĩa là “current time” (thời điểm hiện tại). Cho đến giớ tôi cũng chẳng hiểu vì sao tôi có thể “đọc” được chữ viết tắt bí hiểm đó và từ đó giải quyết được tất cả mọi thứ. Chính bài học lần ấy đã cho tôi niềm tin trong mọi việc của cuộc sống, đặc biệt là các việc làm mình bế tắc. Phải ăn nằm với kẻ thù để hiểu được nó, để thấy được điểm yếu của nó. Kẻ thù ấy chính là những lúc bế tắc của bạn.

Cho đến tận bây giờ, khi đã xa ghế nhà trường, tôi vẫn thấy và cố gắng áp dụng 3 bài học đó. Tuy nhiên thời khắc khiến tôi bắt đầu thấy mình là một chú ếch chính là lúc tôi đậu vào chương trình thạc sĩ bên trường tự nhiên.

Mời bạn đọc tiếp kỳ 2.