Quen biết cái chữ thần thánh này cũng đã được gần 3 năm. Đến hôm nay mới “dám” có một bài cảm nhận về nó, về những “hiểu lầm” đã dần “ngộ ra” sau gần ấy năm bôn ba nơi xứ lạ.

Tại sao lại để một thời gian lâu như thế? Nói thật cũng bởi một từ “sợ”. Sợ bị nói này nói kia. Sợ bị gán cho cái mác gì đó khó chịu trong lòng. Nhưng giờ nghĩ lại, list bạn bè cũng không gọi là nhiều khi chỉ tầm 280 trong khi có người lên đến hàng ngàn (không hiểu nổi). Những người bạn đọc được bài này cũng không nhiều trong số 280 kia. Ít ra cũng có chọn lọc, ít ra tôi nghĩ cũng có người chịu đọc, chịu hiểu.

OK, bắt đầu vào vấn đề chính. Tại sao lại đề cập đến người “ngoài cuộc”? Vì đa phần người trong cuộc đều hiểu rõ (trừ cái ông này) và những người ngoài cuộc bị “thuyết phục” bởi những lý lẽ “có vẻ logic” của…những người ngoài cuộc khác. Tôi may mắn đươc trải nghiệm ở cả hai nhóm người trong cuộc lẫn ngoài cuộc này nên có cái nhìn rõ hơn. Tại sao tôi nói vậy? Vì đơn giản trước khi trở thành người trong cuộc, tôi cũng giống như các bạn, cũng có những hiểu lầm (đôi lúc hiểu đúng) rất tai hại về “nghiên cứu sinh” nói chung, về danh xưng “tiến sĩ” nói riêng.

Quá đặt nặng danh xưng

Người Việt mình phải nói rõ là như vậy. “Nghiên cứu sinh” hay “Tiến sĩ” nghe có vẻ nặng nề, cao xa quá trong khi sang bên nước ngoài (cụ thể tôi đang ở Pháp) mới thấy hai danh từ này nó cũng bình dân y như “bác sĩ”, “giáo viên” hay bất cứ danh từ chỉ nghề nào khác ở Việt Nam vậy. Khi có người hỏi tôi đang làm gì, nói thật, tôi không dám nói mình đang làm nghiên cứu sinh, lại càng không dám nói mình làm nghiên cứu sinh để sau này trở thành “tờ-sờ”. Nghe có vẻ quá ư là khác biệt, quá ư là cái gì đó khiến cho người khác ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ ư? Lý thuyết là vậy nhưng thật tâm người Việt Nam (tôi hiểu rõ vì mình cũng đã từng như vậy) không có mấy ai thiện cảm với danh từ này!

Nhớ cái lần đi thành phố chơi, nhậu cùng bàn với các anh mới quen, họ hỏi tôi đang làm gì, tôi thật thà nói rằng chuẩn bị sang Pháp học lên cao học. Sau khi biết được và nghe nhắc đến danh từ ấy, một anh nhanh miệng nói ngay “Giờ Việt Nam không ai nhận cái bằng đó đâu, ra thất nghiệp như chơi!” và sau đó ít người nói chuyện với tôi nữa. Tôi chỉ cười trừ. Cũng lần khác, đi cùng thằng em sang Cần Thơ, gặp một anh cùng lớp với nó, ảnh cũng hỏi đang làm gì. Thằng em chưa kịp mở miệng tôi liền nhanh nhẩu nói rằng “Em đang tìm việc trên thành phố đó anh.” và nhanh chóng đẩy cuộc trò chuyện sang một hướng khác, mọi thứ rất tự nhiên sau đó. Ác cảm này không chỉ đến từ những người xa lạ, nó cũng đến từ những thành viên trong gia đình (tất nhiên không phải cha mẹ hay anh em ruột thịt rồi). Tôi đã trải qua nhưng không tiện kể về điều này, có điều nó cũng gần tương tự như câu chuyện ở trên.

Ngộ nhận giữa chữ LÀM và chữ HỌC

Tất cả mọi người bên ngoài đều nghĩ rằng những người NCS là đang “vô công rỗi nghề”, chỉ biết học và dùng từ “học” để dành cho họ. “Con khi nào học xong vậy Thi?”, “Học gì mà học lắm thế, không đi làm rồi già mà ai mà nhận?”, “Gia đình nó chắc giàu lắm đây, cho nó đi học suốt, lại ra nước ngoài”,…

Bên Pháp, NCS được xem như là những người đi LÀM thực thụ. Chúng tôi cũng nhận lương, cũng có bảng lương, cũng có ngày phép, cũng phải đóng thuế, cũng được ghi vào hồ sơ là “salarié” (người làm công ăn lương), cũng được nhận trợ cấp thất nghiệp và có đủ các quyền lợi và nghĩa vụ của một người đi làm. Nếu so sánh thì chúng tôi đang đi làm chứ không phải đang đi học.

Sự hiểu lầm đến từ chỗ cái bằng đem về, đến từ câu trả lời của chính những người NCS khi được hỏi làm gì. NCS đa phần đều trả lời là đang “học”. Vì sao? Vì thật sự họ luôn luôn cố gắng bồi bổ kiến thức, luôn học hỏi và tâm lý là đang học chứ không phải làm.

Bạn sẽ hỏi ngược lại, vậy là “học” chứ còn gì nữa? Chẳng qua là “hên” vừa được học, vừa được cho tiền mà chả cần phải làm gì. Tôi xin trả lời cho câu hỏi này. NCS khi nhận một đề tài làm việc, khác với một bộ phận NCS bên VN hay đề tài của Thạc Sĩ. Họ phải làm ra một cái gì đó mới và có đóng góp vào giới khoa học. Có những đề tài nằm trong một dự án lớn của một công ty. Người hướng dẫn của NCS đó lấy ra một ý nhỏ trong dự án để cho NCS đó làm, số tiền mà công ty trả cho dự án đó là rất cao, số tiền NCS đó được nhận cũng nằm trong dự án đó. Nhìn tổng quát, NCS cũng là một thành viên đang làm việc cho dự án ấy chứ không có học.

Bạn sẽ thắc mắc tiếp là những ngành thiên về lý thuyết (Việt Nam ta toàn thiên về cái này) thì có dự án gì đâu? Có ứng dụng gì đâu mà công ty thuê? Vậy không phải là chỉ làm lý thuyết suông và chỉ học không thôi sao? Bạn thắc mắc thế tôi không thể trách được. Tôi sẽ cố gắng giải thích cho bạn hiểu đôi chút. Trong khoa học, phân ra làm hai loại (theo tôi) là khoa học lý thuyết và khoa học ứng dụng. Ví dụ như ngành Toán tôi đang theo đuổi. Tôi làm về toán ứnd ụng, bạn tôi làm về toán lý thuyết. Toán ứng dụng có nghĩa những kết quả mà nó mang lại ứng dụng vào một điều cụ thể nào đó trong thực tiễn trong khi có những đề tài, lĩnh vực rất thuần lý thuyết và nghe chẳng có tí ứng dụng gì cả (đến cả những người đang học nó cũng có lúc chưa đủ đô để hiểu cái mà mình đang học, đang làm ứng dụng chỗ nào). Tuy nhiên một sự thật mà không mấy ai biết, nhất là những người ngoài ngành khoa học. Đó chính là khoa học ứng dụng ÁP DỤNG rất nhiều kết quả của khoa học lý thuyết mà không cần phải chứng minh lại. Phần chứng minh đã có mấy anh lý thuyết lo. Có những kết quả mà khi tìm ra nó, các nhà lý thuyết cũng chưa biết phải ứng dụng vào đâu, tuy nhiên rất lâu sau đó, các nhà khoa học ứng dụng khi làm việc trên các chủ đề gần đấy mới phát hiện ra các kết quả đó giúp họ rất lớn và họ là những người có nghĩa vụ đem chúng ứng dụng vào thực tế. Trong toán học có lý thuyết số. Ngày xưa ngành khoa học chỉ chơi với các con số này vốn mang tiếng là vô bổ, là sinh ra chỉ để làm thỏa mãn sở thích của các nhà toán học lúc ấy (nếu thích, mời bạn xem bộ phim về nhà toán học Ấn Độ Ramanuajan với tựa đề “The man who knew infinity”). Mãi đến tận sau này, lý thuyết số là một trong những ngành không thể thiếu trong chiến tranh, ngân hàng, bảo mật,…

Bị dắt mũi bởi niềm tin cảm xúc

Nói hơi nặng nhưng phải thừa nhận là vậy. Người Việt ta giờ đây đang ở vào giai đoạn nhiễu loạn thông tin và truyền thông. Tràn ngập facebook là các thông tin trái chiều không biết đâu là đúng, đâu là sai. Chung quy lại ta không dựa vào một điểm tựa vững chắc nào để tin mà đa phần ta dựa vào cảm xúc, vào số đông để tin thứ ta thấy trong khi cảm xúc là thứ rất dễ bị tác động. NCS cũng vậy. Chữ này bị bêu xấu và đánh đồng với chữ TS. Chữ TS này lại bị đánh đồng với chữ TS bên VN, một bộ phận những người mua bằng mua cấp, bởi những người không có đóng góp gì cho khoa học thật sự. Các bạn dễ dàng tin vào các status kiểu như “VN 0 sáng chế, 0 phát minh, 10000 TS” mỗi khi có 1 thành quả nào đó của một bác nông dân được đăng báo. Rồi bạn lại tin ngay các con số 0 mê hoặc ấy mà không hề kiểm chứng gì. Rồi bạn lại share vô tội vạ để góp phần vào việc gây dựng niềm tin cảm xúc cho người khác.

Cũng khó trách bạn. Tôi ngày xưa cũng có niềm tin như vậy. Đó là lý do tôi viết bài này.

Giải thích cho cái số 0 huyền thoại ấy. Bạn cần hiểu, trong khoa học có một từ rất dân dã là “đăng báo”. Các nhà khoa học làm rất nhiều chỉ để đăng các bài báo khoa học. Nếu đăng ở các tạp chí lớn thì chứng tỏ nghiên cứu của họ rất có giá trị. Giá trị ở đây không phải chỉ có thể dùng tiền mới có thể đong đo được. Giá trị ở đây là ở đóng góp của nó cho lĩnh vực ấy nói riêng và cho toàn bộ ngành khoa học nói chung. Trong toán học có một trang rất uy tín của hiệp hội toán học Mỹ có thể giúp bạn xem được ai có bao nhiêu bài báo (http://www.ams.org/mathscinet/) và các bài báo ấy được đăng ở tạp chí nào, tạp chí ấy có chỉ số bao nhiêu. Chỉ số tạp chí càng cao, chỉ số trích dẫn càng cao chứng tỏ công trình ấy càng có giá trị. Tuy nhiên, khoa học luôn đi trước thời đại. Như ví dụ và ý tôi đã nói ở phần trước, có những cái thiên về lý thuyết và đi trước thực tế rất lâu thì khó mà có thể nhìn ra chúng ứng dụng thực tế thế nào. Có những bài báo rất ngắn, rất nhỏ nhưng vài năm, vài chục năm sau nó lại có đóng góp rất lớn vào một ứng dụng thực tiễn nào đấy.

Việt Nam ta toàn là đóng góp theo kiểu “đăng báo” này đấy các bạn ạ. Nếu bạn nói về “sáng chế”, về “phát minh” thì có lẽ giáo sư Ngô Bảo Châu cũng chẳng có được một tí gì. Việt Nam nghèo, không có đủ dụng cụ cũng như phòng thí nghiệm để có thể làm ra các thứ có thể thấy được ngay, có thể ứng dụng được ngay. Hệ thống giáo dục Việt Nam từ thấp đến cao đặt nặng lý thuyết và gần như bất khả kháng trong việc chuyển hướng sang ứng dụng vì thiếu cơ sở vật chất. Do đó đa phần các nhà nghiên cứu Việt Nam, bằng thiệt lẫn bằng giả, đều đóng góp theo kiểu lý thuyết là chính. Mà lý thuyết khoa học thì nó không được ứng dụng ngay, hoặc không được ứng dụng trong nước mà có khi ứng dụng ở nước ngoài, cái nước mà có công cụ tương ứng để phát triển cái lý thuyết ấy. Khi ấy, nếu bạn đem “phát minh” ra thì cũng đành chịu.

kỳ tiếp theo, tôi sẽ bàn về tính từ “giấy” thường đi kèm với danh xưng TS.